Những yếu tố quan trọng ảnh hưởng trực tiếp khi lâm bồn

Những yếu tố quan trọng ảnh hưởng trực tiếp khi lâm bồn

Sau 10 tháng gian khổ chờ đợi, cuối cùng giây phút quan trọng cũng đến. Bạn đừng sợ hãi, bởi cùng với nỗi đau khi sinh là niềm hạnh phúc vô bờ khi em bé của bạn chào đời. Khi thai nhi đủ lớn để có thể sống độc lập ngoài tử cung là đã đến lúc lâm bồn rồi đấy! Để sinh nở thuận lợi và bớt đau đớn, sản phụ nên tìm hiểu trước về quá trình lâm bồn và có những phản ứng hợp lý.

Đường sinh, thai nhi và lực đẩy là những yếu tố quan trọng ảnh hưởng trực tiếp khi lâm bồn
Đường sinh, thai nhi và lực đẩy là những yếu tố quan trọng ảnh hưởng trực tiếp khi lâm bồn

Đường sinh, thai nhi và lực đẩy (lực đẩy em bé chui qua đường sinh) là ba nhân tố mang tính quyết định trực tiếp ảnh hưởng đến sự thuận lợi của quá trình sinh nở. Ngoài ra, trạng thái sức khỏe của cơ thể mẹ, môi trường xung quanh cũng là những nhân tố quan trọng.

1. Đường sinh

a. Đường sinh là con đường thai nhi ra đời từ cơ thể mẹ, chia làm hai phần là đường sinh mềm và đường sinh xương. Đường sinh xương chỉ xương chậu, đường sinh mềm là từ đoạn dưới tử cung, cổ tử cung, âm đạo và tổ chức mềm của xương chậu hợp thành, là cửa ải mà thai nhi phải vượt qua để rời khỏi tử cung đến thế giới bên ngoài. Tiếp đó, thai nhi phải vượt cửa ải thứ hai qua âm đạo tiến tới vùng kín phía ngoài. Đường sinh mềm được hình thành từ các cơ và dây chằng.

Khi lâm bồn, những tổ chức này sẽ càng mềm hơn để thai nhi chui qua, dịch nhầy và nước ối bôi trơn giúp thai nhi dễ vượt qua đường sinh.

b. Đường sinh mềm tuy mềm và có tính co giãn nhưng xung quanh lại là khung xương hình thành xương chậu, kết cấu của nó sẽ ảnh hưởng đến sự thuận lợi khi sinh. Vì vậy, phần dưới của xương chậu (xương chậu nhỏ) ở vách ngoài đường sinh mềm được gọi là đường sinh xương.

Đường sinh xương là không gian được tổng hợp từ nhiều mảnh xương do các khớp liên kết và nối với nhau một cách chắc chắn nhờ các dây chằng. Những không gian này hoàn toàn không đều nhau, như cổng vào xương chậu ở phía trên (mọc ngang), phần xương chậu mở rộng (mọc xiên), vùng xương chậu hẹp (mọc dọc). Khi sắp sinh, nơi xương mu của xương chậu kết hợp (ở phía trên môi lớn của cơ quan sinh dục nữ) sẽ giãn và hơi mở ra để thai nhi dễ dàng vượt qua. Do đó, kiểm tra kích cỡ xương chậu là một nội dung quan trọng khi khám thai. Xương chậu quá nhỏ hoặc không mở đều sẽ gây sinh khó.

Xem thêm:

2. Trạng thái của thai nhi

Thai nhi phải vượt qua đường sinh của mẹ để đến với thế giới bên ngoài nên sẽ tự co lại hết mức có thể. Bộ phận cơ thể to và cứng nhất của thai nhi là đầu, vì thế, khi lâm bồn, nếu đầu thai thuận lợi vượt qua đường sinh thì sau đó sẽ rất nhẹ nhàng. Xương đầu thai nhi do năm mảnh xương ghép lại, nhưng không chắc chắn như người trưởng thành. Do vậy, khi vượt qua đường sinh nhỏ hẹp, những mảnh xương này sẽ chồng lên nhau, khiến đầu nhỏ đi để tiến lên phía trước. Nhờ kết cấu này giúp phần đầu phía trước của thai nhi trở nên nhỏ nhọn và thuận lợi vượt qua đường sinh. Nó sẽ hồi phục hình dạng ban đầu sau khi em bé chào đời vài ngày. Chúng ta cùng xem thai nhi bình thường ra đời như thế nào nhé:

(1) Xoay trở thứ nhất (nối liền – hạ xuống – uốn gập)

Khi đầu thai nhi lọt vào cổng xương chậu, đường kính trước sau dài nhất (đường khớp dọc từ trước ra sau, xương nối liền xương ăn khớp với nhau) ăn khớp với đường kính của cổng khung xương chậu, cũng có nghĩa, thai nhi nằm ngang trong cơ thể mẹ.

Dưới áp lực đẩy xuống của các cơn đau đẻ, mặt sau xương sọ tỳ vào xương lưng và tác dụng của nguyên lý đòn bẩy, phần mặt sau đầu chịu một lực ép lớn hơn khiến cằm thai nhi ép chặt vào ngực, khiến mặt sau đầu ở vị trí phía trước, làm quá trình sinh nở dễ dàng xảy ra.

(2) Xoay trở thứ hai (xoay chuyển bên trong)

Dưới áp lực của những cơn đau liên tiếp, thai nhi được đẩy xuống phần xương chậu rộng, nơi này mọc xiên nên đường kính trước sau của thai nhi cũng chuyển hướng xiên, mặt sau đầu xoay đến vị trí xiên lên phía trước cơ thể mẹ.

Tiếp đó từ xương chậu đến lối ra, đường kính của khu vực này khá dài, vì vậy mặt sau đầu bèn chuyển lên phía trước cơ thể mẹ, tư thế thai nhi giống như đang quay đầu lại nhìn lưng mẹ nên tới đây, thời điểm thai nhi ra đời cũng ngày càng gần hơn.

(3) Xoay trở thứ ba (vươn duỗi)

Tới đây, mặt sau đầu của thai nhi bị chặn ở phía dưới xương mu, xương chẩm trở thành điểm tựa đẩy phần trán, mặt lần lượt vươn ra ngoài, sau đó bị đẩy ra ngoài âm hộ, tiếp đó mặt sau đầu trượt ra, cả đầu thai nhi lộ ra ngoài cơ thể mẹ. Khi đầu thai nhi hạ xuống đường sinh xương, lưng hướng về phía trước cơ thể mẹ, có nghĩa là độ rộng của vai khớp với đường kính ngang khá dài của cổng khung xương chậu. Khi đầu thai nhi đã lộ ra ngoài cơ thể mẹ, vai cũng sẽ tuần tự đi theo đường kính của đường sinh, xoay chuyển ngang, xiên, dọc trong cơ thể mẹ, tức vai và đường kính trước sau của đầu thai nhi chuyển động cùng hướng.

(4) Xoay trở thứ tư (xoay ra ngoài)

Khi vai em bé chui ra ngoài, độ rộng của vai (chiều ngang) khớp với đường kính trước sau của lối ra xương chậu, vì vậy phần đầu hướng về lưng mẹ của thai nhi cũng xoay theo về phía trong đùi mẹ, đó gọi là sự xoay trở thứ tư của đầu thai nhi.

Khi đầu và vai thai nhi đã vượt qua đường sinh, những bộ phận khác sẽ dễ dàng ra theo, vậy là bạn đã sinh con một cách tự nhiên và thuận lợi.

3. Lực đẩy khi lâm bồn

(1) Đau đẻ

Các cơ của tử cung không thể khống chế bằng ý thức như cơ tay. Nhưng sự co thắt tử cung lại có tính chu kỳ, còn gọi là đau đẻ, nó là động lực nguồn của sự sinh nở.

Trong thời gian mang thai, đặc biệt là sau tuần thứ 16 sẽ xuất hiện những cơn đau thai nghén, nhưng đều không có tính quy luật, khác với đau đẻ. Đau đẻ không phải là các cơ tử cung co thắt liên tục mà là sự thay thế nhiều lần giữa co thắt và thả lỏng. loại co thắt này gọi là co thắt phát tác, cơn đau phát tác và thời gian ngừng nghỉ giữa các lần phát tác gọi là khoảng gián đoạn giữa hai cơn đau đẻ.

Cơn đau phát tác, các cơ của tử cung cứng lại, có thể cảm thấy ngay khi vuốt ve bụng. Sau nhiều lần co thắt tử cung, nó sẽ hạ xuống dưới, cổ tử cung mở ra để thai nhi dễ dàng chui qua.

Lưu ý: Gần sinh bắt đầu bằng những cơn co thắt tử cung không mang tính quy luật, sau đó mới dần dần có quy luật, và khoảng cách giữa hai cơn đau từ 60 ~ 30 phút dần rút ngắn còn 20 phút hoặc 15 phút, trường lực cũng dần tăng mạnh. Khi xuất hiện cơn co thắt có quy luật 10 phút một lần, quá trình sinh nở đã thực sự bắt đầu. Nhưng tình trạng của mỗi sản phụ không giống nhau, thai phụ đã từng sinh con có thể sẽ không có hiện tượng dần rút ngắn khoảng cách thời gian giữa hai cơn đau, mà sẽ lập tức từ trạng thái không có tính quy luật tiến vào những cơn đau cách nhau năm phút chuẩn bị sinh nở trong thời gian cực ngắn, đây là điểm cần phải chú ý.

Cùng với quá trình sinh nở, thời gian gián đoạn giữa hai cơn đau ngắn dần, cơn đau sẽ dữ dội và dài hơn, thời gian gián đoạn và cơn đau cuối cùng dài khoảng 10 phút, liên tục thay thế nhau, lúc này được sự hỗ trợ của lực ép lên bụng, em bé sẽ ra đời ít phút sau đó.

(2) Áp lực bụng (dùng lực)

Việc gia tăng lực ép ở bụng nhờ sự co thắt của cơ thành bụng và cơ hoành gọi là áp lực bụng, có thể dùng cho tử cung để hỗ trợ sinh nở.

Áp lực bụng chính là sự dùng lực bụng được thực hiện trong trạng thái có ý thức, trong quá trình sinh nở khi đầu thai nhi hạ xuống đè lên trực tràng hãy làm động tác như khi đi đại tiện, dùng lực đẩy ra một cách tự nhiên.
Đặc biệt, khi thai nhi sắp ra đời, cùng với việc dùng lực mang tính phản xạ của các cơn đau phát tác, thai phụ càng khó tự khống chế áp lực bụng, đây gọi là đau cộng áp.

Áp lực bụng có thể hỗ trợ sản phụ sinh con thuận lợi. Sản phụ phải dựa vào tác dụng đồng thời của đau đẻ và áp lực bụng mới có thể hoàn thành quá trình lâm bồn. Đặc biệt, khi vào giai đoạn cuối, áp lực bụng có thể phát huy tác dụng rất lớn nên có biết cách dùng lực hay không ảnh hưởng rất lớn đến lâm bồn thuận lợi.

Dùng lực tùy ý chẳng những không thể đẩy thai nhi ra, mà ngược lại sản phụ sẽ dễ cảm thấy mệt mỏi. Do đó, phối hợp với sự phát tác của cơn đau đẻ, dùng lực một cách hợp lý là điều vô cùng quan trọng.

Thai phụ nên bắt đầu luyện tập phương pháp dùng lực khi mang thai tuần thứ 36 ~ 37, mỗi ngày tập một đến hai lần. Nhưng cần chú ý không được dùng lực quá mạnh, nếu không có thể gây ra nguy cơ sinh non.

Bình luận