Những điều nên biết về bệnh tiểu đường thai kỳ

Những điều nên biết về bệnh tiểu đường thai kỳ

Hai thập kỷ qua, tỷ lệ mắc tiểu đường thai kỳ tăng dần ở nhiều quốc gia, nhất là ở châu Á. Theo một nghiên cứu thực hiện trên hơn 20.000 mẹ bầu, gần 1% trường hợp không dung nạp hydrat cacbon. Trong số đó, 29% đã mắc bệnh tiểu đường thật sự trong vòng 5,5 năm sau sinh.

Nhung-dieu-nen-biet-ve-benh-tieu-duong-thai-ky
Những điều nên biết về bệnh tiểu đường thai kỳ

 

Xem thêm:

Đây là căn bệnh rối loạn dung nạp hydrat cacbon, được phát hiện lần đầu khi mang thai. Tỷ lệ tử vong do căn bệnh này gây ra là ¼ ở bà mẹ và ⅓ con. Nếu không phát hiện tiểu đường thai kỳ kịp thời hoặc không kiểm soát được những rối loạn do bệnh này gây ra, cách giải quyết tốt nhất là chấm dứt sớm thai kỳ (trước 33 tuần lễ).

Nhiều thống kê cũng cho thấy, 50% số người mắc tiểu đường thai kỳ đã trở thành tiểu đường thực sự trong vòng 20 năm, với những biến chứng lâu dài như béo phì, con cái họ cũng có tỷ lệ tiểu đường cao. Vì vậy, người bị bệnh cần được theo dõi lâu dài về sau.

50%-so-nguoi-mac-tieu-duong-thai-ky-da-tro-thanh-tieu-duong-thuc-su-trong-vong-20-nam
50% số người mắc tiểu đường thai kỳ đã trở thành tiểu đường thực sự trong vòng 20 năm

Bệnh tiểu đường thai kỳ có thể dẫn tới hậu quả rất xấu, đứa trẻ sinh ra rất yếu và được ví như người khổng lồ chân đất sét vì có thể nặng tới 6kg nhưng rất yếu và tỷ lệ tử vong cao. Tuy nhiên, nhiều trường hợp bệnh có thể tiến triển tốt và trẻ sinh ra vẫn bình thường, vì vậy thai phụ cần được phát hiện sớm bệnh tiểu đường thai kỳ (tốt nhất là trước tuần lễ 28). Những người bị bệnh cần được theo dõi sát và có chế độ ăn uống hợp lý. Mức năng lượng trung bình nên từ 1800 dến 2000 calo/ngày (với người bị béo phì, mỗi ngày nên dùng 90g protein, 50g mỡ, 100g đường). Cần bổ sung thêm các vitamin, nguyên tố vi lượng, hạn chế cung cấp natri. Hằng ngày (hay cách ngày) cần đo đường niệu, aceton niệu, bổ sung insulin.

Thai phụ sẽ được sinh thường nếu chưa có biến chứng, khung xương chậu bình thường, thai không to, tình trạng cổ tử cung thuận lợi cho việc sinh ngả dưới và cho việc giục sinh. Việc mổ lấy thai được chỉ định cho các trường hợp bệnh đã tiến nặng hoặc giục sinh thất bại, chuyển dạ kéo dài. Trẻ sinh ra cần được lưu ý đặc biệt vì rất dễ bị nhiễm toan huyết, giảm đường huyết, suy hô hấp.

Các trường hợp bệnh được phát hiện muộn, thai phụ có tiểu sử sinh khó hoặc có biến chứng nên kết thúc thai kỳ sớm.

Bình luận