Những bệnh cần điều trị trước khi mang thai

Những bệnh cần điều trị trước khi mang thai

Thông thường, trước khi mang thai các cặp đôi sẽ phải đi kiểm tra sức khỏe tổng thể để đảm bảo không mắc những bệnh nguy hiểm, giúp thai kỳ khỏe mạnh và sinh ra những em bé thông minh. Dưới đây là những bệnh mẹ bầu cần trị dứt điểm trước khi mang thai để đảm bảo mẹ có sức khỏe tốt nhất cho 280 ngày mang thai sắp tới.

1. Thiếu máu

Phụ nữ thiếu máu thường có các triệu chứng như chóng mặt hoặc khi đứng lên váng đầu, đau đầu, khó thở, vì thế bắt buộc phải kiểm tra máu trước khi quyết định mang thai. Nếu mắc chứng thiếu máu, nên chữa khỏi trước rồi mới nghĩ tới việc mang thai. Phương pháp trị liệu chủ yếu là điều trị bằng dinh dưỡng, thường xuyên bổ sung nhiều thực phẩm giàu protein và chất sắt như gan, thịt nạc, các loại hải tảo, lòng đỏ trứng, lạc, vừng… Nên ăn nhiều các chế phẩm từ đỗ, chúng là nguồn protein thực vật và sắt tốt nhất, lại rất kinh tế và thiết thực.

Những bệnh cần điều trị trước khi mang thai
Nên chữa khỏi trước rồi mới nghĩ tới việc mang thai

Thiếu máu nhẹ không phải là bệnh, không cần lo lắng, nếu trong đời sống hàng ngày chú ý một chút, có thể hồi phục rất nhanh. Những thai phụ thiếu máu do mang thai, phải giảm khối lượng công việc. Nếu lượng hemoglobin ở mức 7g/100ml thì phải nghỉ ngơi hoàn toàn để giảm mức tiêu hao oxy của cơ thể và tránh những sự cố ngoài ý muốn do váng đầu, mệt mỏi dẫn đến ngất xỉu.

2. Cao huyết áp

Thanh niên mắc chứng cao huyết áp gọi là “chứng cao huyết áp thanh niên”. Tỷ lệ bệnh nhân trẻ tương đối thấp. Huyết áp của bệnh nhân cao huyết áp thường tăng khi mang thai, rất dễ gây ra chứng nhiễm độc thai nghén vô cùng nguy hiểm đối với thai phụ.

Những phụ nữ có kế hoạch sinh con nếu hay gặp phải các triệu chứng như đau đầu nặng, mỏi vai, mất ngủ, chóng mặt, phù nề… nhưng không rõ chỉ số huyết áp của mình, thì nên đi kiểm tra đo huyết áp trước khi mang thai. Nếu phát hiện huyết áp cao phải chú ý chế độ ăn uống, thức ngủ, tăng cường rèn luyện thân thể, tốt nhất nên giữ chỉ số huyết áp bình thường trước khi có thai.

Thai phụ mắc chứng cao huyết áp nên tránh mệt mỏi quá độ, bảo đảm ngủ đủ thời gian, giữ tâm trạng ổn định, chia nhỏ bữa ăn, giảm lượng muối nạp vào cơ thể, mỗi ngày khống chế lượng muối trong vòng 2g, ăn ít thức ăn chứa nhiều calo và mỡ.

Dựa vào tình trạng bệnh, có thể dùng thuốc lợi tiểu, thuốc hạ huyết áp theo chỉ định của bác sĩ…

Xem thêm:

3. Viêm thận mạn tính

Viêm thận mạn tính khiến chức năng thận của thai phụ xấu đi, gây ra chứng nhiễm độc thai nghén ngay từ giai đoạn đầu của thai kỳ. Thai phụ nhiễm bệnh làm cho sự tuần hoàn máu qua nhau thai thay đổi, không cung cấp đủ dinh dưỡng, ảnh hưởng rất lớn tới sự sinh trưởng và phát triển của thai nhi.

Ngoài ra, sau khi sinh thai phụ sẽ có di chứng. Do đó, bệnh nhân viêm thận mạn tính không thể mang thai, nếu nôn nóng muốn có con nên tích cực điều trị, mang thai theo hướng dẫn của bác sĩ.

Nếu bác sĩ cho phép mang thai, phải liên hệ chặt chẽ với bác sĩ sản khoa và nội khoa để đảm bảo mang thai và sinh con an toàn.

Triệu chứng chủ yếu của viêm thận mạn tính là toàn thân hay mệt mỏi, phù thũng, một số người có triệu chứng tăng tiểu đạm (protein trong nước tiểu) và huyết áp. Trước khi mang thai phải phát hiện sớm, điều trị kịp thời đề phòng chuyển thành bệnh mãn tính.

Trong thời gian mang thai, hàng ngày, thai phụ bị viêm thận nên nghỉ ngơi nhiều, tăng cường dinh dưỡng, bổ sung thức ăn có hàm lượng protein cao, hấp thụ đủ lượng vitamin, nên ăn nhạt, tăng cường sức đề kháng của cơ thể, phòng tránh các loại bệnh tật. Bệnh nhân viêm thận mãn tính phải hạn chế sinh đẻ một cách nghiêm ngặt, tốt nhất nên làm phẫu thuật triệt sản sau khi sinh con đầu lòng, vì mỗi lần sinh con là một lần mạo hiểm với tính mạng.

4. Lao phổi

Phụ nữ từng mắc bệnh lao phổi, khi mang thai rất dễ tái phát bệnh. VÌ vậy, những phụ nữ đã chữa khỏi lao phổi trước khi quyết định mang thai nên đến bệnh viện kiểm tra, sau đó bác sĩ sẽ quyết định có nên mang thai hay không. Nếu khối hạch đã có xu hướng ổn định hoặc đã vôi hóa thì có thể mang thai. Nhưng vẫn không thể loại trừ khả năng bệnh cũ tái phát trong thời gian mang thai và sau sinh. Bệnh nhân lao phổi cần chú trọng sinh đẻ có kế hoạch, ít nhất hai năm sau khi khỏi bệnh mới sinh tiếp.

Vi khuẩn lao thông thường sẽ không xâm nhập vào cơ thể thai nhi qua nhau thai, tức là cơ thể mẹ sẽ không truyền bệnh lao cho thai nhi trong bụng. Nếu thai phụ nhiễm lao phổi có khả năng lây lan, cách ly không nghiêm ngặt, sẽ rất dễ truyền bệnh cho trẻ sơ sinh. Do đó trong vòng 24 tiếng sau khi sinh trẻ sơ sinh phải được tiêm vắc xin phòng lao đồng thời nghiêm cấm bú mẹ.

Bệnh lao giai đoạn đầu rất khó phát hiện. Nếu xuất hiện các triệu chứng như liên tục sốt nhẹ nhiều ngày, mệt mỏi, ho, ho có đờm, ra mồ hôi trộm, nên đến bệnh viện chữa trị.

Bệnh nhân lao tiếp nhận điều trị bằng thuốc kháng vi khuẩn lao đồng thời phải chú ý tăng cường dinh dưỡng, giữ phòng ở yên tĩnh, thông thoáng. Đi bộ ngoài trời, phơi nắng nhiều giúp hấp thu canxi tốt hơn. Thai phụ nhiễm bệnh phải đo nhiệt độ cơ thể hàng ngày vào một giờ nhất định, kiểm tra tốc độ lắng hồng cầu và chụp X-quang ngực, để nắm chắc hiện trạng bệnh. Bệnh nhân nặng phải làm phẫu thuật.

5. Bệnh tiểu đường

Tiểu đường là bệnh có tính di truyền khá mạnh. Dù cơ thể mẹ trước khi mang thai không biểu hiện triệu chứng bệnh, nhưng trên thực tế người mẹ đã mang gen gây bệnh ngay lúc mới chào đời, dưới tác động của nhiều nguyên nhân, gen gây bệnh sẽ biểu hiện thành bệnh. Mang thai là một trong các nguyên nhân đó. Trước khi mang thai phải tìm hiểu trong số người thân trực hệ có người mắc bệnh tiểu đường không.

Tiểu đường là bệnh có tính di truyền khá mạnh
Tiểu đường là bệnh có tính di truyền khá mạnh

Thai phụ mắc bệnh tiểu đường thường bị sảy thai, sinh non, nhiễm độc thai nghén, chứng đa ối và thai to… Do đó, phụ nữ trong các gia đình có tiền sử mắc bệnh tiểu đường trước khi mang thai nên đi khám, căn cứ kết quả kiểm tra xác định tình trạng thai nghén. Đối với những phụ nữ không nên mang thai nhưng đã có thai nên nhanh chóng dừng lại.

Gợi ý:Thai phụ mắc bệnh tiểu đường phải thực hiện chế độ ăn uống nghiêm khắc theo hướng dẫn của bác sĩ. Thông thường, hàng ngày nên hấp thụ khoảng 8,12 kiloca10, món chính 350 ~ 400g, protein 1,5 ~ 2g/1kg cân nặng, đồng thời chú ý bổ sung vitamin, canxi và sắt… Nên uống nhiều sữa bò, ăn nhiều rau xanh và chế phẩm từ đỗ, hạn chế ăn các loại củ, hoa quả, kẹo chứa nhiều đường.

Sản phụ mắc bệnh phải vào viện ba, bốn tuần trước khi sinh, sau khi sinh phải chú ý phòng tránh lây nhiễm. Mỗi ngày đo nhiệt độ bốn lần. Bệnh nhân nặng không nên cho con bú, bệnh nhẹ có thể cho bú nhưng phải tăng cường chăm sóc vùng ngực, giữ vệ sinh sạch sẽ, phòng tránh lây nhiễm.

Để sớm phát hiện bệnh tiểu đường, phụ nữ hoặc thai phụ gia đình có tiền sử tiểu đường phải làm xét nghiệm lượng đường trong nước tiểu vào nhiều thời điểm khác nhau. Điều đáng chú ý là người có kết quả xét nghiệm dương tính không nhất định là người mắc bệnh tiểu đường. Vì mang thai có thể dẫn đến tiểu đường lành tính (Benign glycosuria), sau khi sinh chức năng tuyến sữa được kích thích, sẽ xuất hiện chứng tiểu đục (trong nước tiểu có đường lactoza), những bệnh này đều thuộc loại tiểu đường sinh lý.

6. Bệnh tim

Sau khi mang thai, tim phải chịu trách nhiệm vận chuyển tới tử cung một lượng máu lớn, cùng với đó lượng oxy tiêu hao tăng lên, nước và natri tích tụ nhiều hơn trong cơ thể sẽ làm cho gánh nặng của tim trở nên quá lớn. Khi sắp sinh và từ một đến ba ngày sau sinh, sức ép lên tim càng lớn, rất dễ gây suy tim. Bệnh nhân tim mạch trong thời gian mang thai tình trạng bệnh sẽ xấu đi, do tim không gánh vác nổi trách nhiệm cung cấp máu, sẽ dẫn đến sảy thai, sinh non. Ngoài ra, bệnh tim còn là nguyên nhân gây nhiễm độc thai nghén.

Phụ nữ nếu có các triệu chứng khó thở, cơ thể dễ mệt mỏi, tim đập nhanh… phải kiểm tra tim mạch trước khi mang thai. Mắc bệnh tim độ ba và độ bốn không được mang thai. Nếu tránh thai thất bại phải nhanh chóng phá thai. Không nên mạo hiểm tính mạng để sinh con.

Bệnh nhân tim mạch độ một và độ hai có thể sinh con, sau khi mang thai nên cố gắng mời bác sĩ chuyên khoa tim mạch và bác sĩ khoa sản tiến hành hội chẩn định kỳ, phải thường xuyên quan sát, chú ý tình trạng chức năng của tim, phòng tránh xảy ra suy tim, nguy hiểm đến tính mạng hai mẹ con.

Thai phụ mắc bệnh tim phải vào viện vài tuần trước khi sinh, hơn nữa phải chọn một bệnh viện có điều kiện tốt để sinh con. Khi sắp sinh, cố gắng nghỉ ngơi thật tốt, mỗi ngày phải ngủ ít nhất mười tiếng, ăn những thực phẩm giàu protein và vitamin. Sau khi sinh không nên xuất viện quá sớm, nằm viện thêm một thời gian vừa để dễ dàng quan sát và tĩnh dưỡng vừa để dự phòng lây nhiễm, tránh phát sinh chứng viêm màng trong tim do nhiễm khuẩn. Không nên cho con bú. Phải tiến hành cách ly nghiêm ngặt. Tốt nhất nên làm phẫu thuật triệt sản.

7. Viêm gan vi-rút

Bệnh nhân viêm gan sau khi mang thai không những ảnh hưởng đến sức khỏe của mẹ mà còn gây nguy hiểm cho thai nhi. Bởi lẽ, viêm gan do vi-rút có thể truyền từ mẹ sang con thông qua nhau thai, gây sảy thai, sinh non, chết trong khi sinh và thai bị dị tật. Đứa trẻ may mắn được sinh ra có khả năng tử vong cao do bị viêm gan. Vì thế, bệnh nhân mắc viêm gan vi-rút nên tích cực điều trị, chỉ nên mang thai khi chức năng gan đã hồi phục.

Nếu có triệu chứng toàn thân mệt mỏi, đau hai bên sườn, sốt, thậm chí xuất hiện chứng vàng da đến bệnh viện khám chữa bệnh sớm nhất có thể. Phụ nữ từng mắc bệnh viêm gan, trước khi mang thai hoặc giai đoạn đầu của thai kỳ phải kịp thời báo với bác sĩ, đồng thời làm xét nghiệm máu và kiểm tra nước tiểu.

Thai phụ mắc bệnh viêm gan vi-rút cần được áp dụng các biện pháp xử lý tương ứng theo sự hội chẩn giữa khoa nội và khoa sản.

  • Giai đoạn đầu của thai kỳ có thể xem xét phương pháp phá thai trị bệnh. Nếu bệnh tình nghiêm trọng, bước đầu nên khống chế tình trạng bệnh, chờ bệnh tình thuyên giảm mới phá thai trị bệnh;
  • Đến giai đoạn giữa và cuối thai kỳ không nên phá thai, cần dự phòng chứng nhiễm độc thai nghén, tăng cường bảo vệ sức khỏe trong giai đoạn trước và sau sinh;
  • Khi sinh phải xét nghiệm nhóm máu sản phụ, phần lớn những người mắc bệnh này cần truyền máu sau sinh;
  • Sau sinh phải đặc biệt chú ý dự phòng lây nhiễm, kiểm tra định kỳ chức năng gan. Trẻ sơ sinh phải cách ly với sản phụ, đồng thời tiêm huyết thanh kháng viêm gan vi-rút. Sản phụ không được cho con bú.

8. U xơ tử cung

Thai phụ bị u xơ tử cung bản thân không có cảm giác đặc biệt, phần lớn có thể sinh con tự nhiên. Nhưng khối u dưới niêm mạc cản trở hợp tử làm tổ, nhiều lần dẫn đến sảy thai, vì thế, cần làm phẫu thuật loại bỏ khối u trước rồi mới mang thai.

Cần làm phẫu thuật loại bỏ khối u trước rồi mới mang thai
Cần làm phẫu thuật loại bỏ khối u trước rồi mới mang thai

Nếu khối u trong tử cung không ảnh hưởng đến thai nhi thì không cần xử lý, nhưng phải quan sát nghiêm ngặt tình trạng thay đổi của khối u. Nếu phần sinh ra từ khối u gây trở ngại đến việc sinh con, cản trở đầu của thai nhi chui ra, phải mổ đẻ đồng thời loại bỏ khối u.

9. Bệnh giang mai

Giang mai có thể xâm nhập vào cơ thể thai nhi qua nhau thai gây sảy thai, sinh non, thai chết lưu, dị tật và dẫn đến viêm màng não trẻ sơ sinh… Triệu chứng chủ yếu của bệnh giang mai bẩm sinh ở trẻ sơ sinh là: mũi tẹt, chảy máu mũi, trên da xuất hiện mụn giang mai, tủy xương dị thường…

Lưu ý:Triệu chứng chủ yếu của bệnh giang mai là: khi mới lây nhiễm, chỉ loét bộ phận sinh dục, tức tổn thương âm hộ, vài ngày sau vết thương sẽ tự động liền miệng. Nhưng trên thực tế, vẫn chưa chữa tận gốc bệnh, khoảng 12 tuần sau sẽ phát bệnh lần nữa, đi kèm các triệu chứng như đau đầu, sốt cao, trên da xuất hiện các đốm đỏ… vì vậy, nếu bản thân hoặc chồng đã từng bị 10ét bộ phận sinh dục, nên sớm đến bệnh viện kiểm tra cơ thể toàn diện.

Những phụ nữ nghi ngờ mắc bệnh giang mai, trước khi mang thai phải kiểm tra máu, vì loại bệnh này gây tác hại vô cùng lớn. Người nhiễm bệnh chỉ được mang thai sau khi đã chữa khỏi bệnh.

Thai phụ mắc bệnh giang mai nếu có thể phát hiện sớm, điều trị kịp thời, chữa khỏi trước khi nhau thai hình thành thì sẽ không truyền bệnh cho thai nhi, nếu không bắt buộc phải phá thai.

10. Viêm bàng quang

Phụ nữ có niệu đạo ngắn, lỗ thoát tiểu nằm rất gần âm đạo và hậu môn, do đó vi khuẩn dễ dàng xâm nhập bàng quang, dẫn đến viêm bàng quang. Nếu không khống chế được bệnh tình, sẽ lây lan đến bể thận, gây viêm thận bể thận.

Triệu chứng chủ yếu của bệnh viêm bàng quang là tiểu nhiều, tiểu gấp, đau khi đi tiểu, lỗ thoát tiểu có cảm giác bỏng rát… Người bệnh có thể làm những triệu chứng này thuyên giảm bằng cách uống nhiều nước. Nếu có các triệu chứng kể trên, nên sớm điều trị.

Viêm bàng quang rất dễ tái phát, đặc biệt là trong thời gian mang thai, dịch trong âm đạo tiết ra nhiều, không chú ý giữ vệ sinh một chút đã khiến bệnh tái phát. VÌ vậy, phụ nữ từng mắc bệnh viêm bàng quang phải chữa trị triệt để, dù các triệu chứng thông thường biến mất, xét nghiệm nước tiểu bình thường, cũng cần phải tiếp tục uống thuốc thêm khoảng một tuần để phòng tái phát.

Thai phụ phải dự phòng bệnh viêm bàng quang, cần thường xuyên tắm rửa, thay quần áo lót, giữ vệ sinh âm hộ. Uống nhiều nước, cấm ăn các loại gia vị cay, tránh mệt nhọc quá độ, không được nhiễm lạnh. Nếu phát hiện đã mắc bệnh viêm bàng quang phải kịp thời chữa trị. Nếu triệu chứng xuất hiện trước tuần thứ 36 của thai kỳ hoặc một tuần sau khi sinh, có thể tắm ngồi với nước nóng để giảm nhẹ triệu chứng.

11. Viêm âm đạo

Viêm âm đạo đa số do nhiễm vi khuẩn Candida gây ra. Vi khuẩn Candida là một loại thực khuẩn. Nếu chưa chữa khỏi bệnh viêm âm đạo, lúc sinh có thể truyền nhiễm cho thai nhi trong tuyến dẫn thai nhi, dẫn đến trẻ sơ sinh mắc bệnh tưa miệng.

viêm âm đạo ảnh hưởng đến việc điều trị và thai nghén
viêm âm đạo ảnh hưởng đến việc điều trị và thai nghén

Người mắc bệnh này tốt nhất nên chữa khỏi rồi mới sinh con, nếu không sẽ ảnh hưởng đến việc điều trị và thai nghén. Triệu chứng chủ yếu của bệnh viêm âm đạo do nhiễm khuẩn Candida là ngứa bộ phận sinh dục, lúc nặng ngứa không chịu nổi, chất âm đạo tiết ra ở dạng bã đậu, xung quang lối vào âm đạo đỏ lên như bị chàm bội nhiễm. Nếu phát hiện có triệu chứng kể trên, nên kịp thời đến bệnh viện điều trị.

Mấu chốt khi dự phòng viêm âm đạo do nhiễm khuẩn Candida là ở vệ sinh âm hộ và cách ly tiêu độc. Phụ nữ bị tiểu đường phải đặc biệt chú ý phòng tránh.

 

Bình luận